Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Phó chủ tịch cho rằng ECB thật sự lo lắng về lạm phát.


ECB tiếp tục thể hiện sự lo lắng về lạm phát thấp dù họ không có những động thái cụ thể vào tuần trước, phó chủ tịch ECB đã nói với CNBC vào ngày thứ tư hôm qua. 

Vitor Constancio cũng cho CNBC biết rằng: “ nỗi lo lắng tiếp tục dâng cao, bởi vì lạm phát dưới 1% dã duy trì trong nhiều tháng, và đó thật sự là một vấn đề”. Ông cho biết thêm: “ chúng tôi thật sự rất lo lắng về vấn đề lạm phát ở mức thấp.”

ECB đã lựa chọn mức lãi suất 0.25% hôm thứ năm, và đồng thời lãi suất huy động vốn bằng 0. ECB cũng đã phớt lờ lời kêu gọi của IMF về việc đấu tranh với việc lạm phát tiếp tục giảm mạnh và hồi phục nó theo chiều hướng tốt hơn. Tuần này những dữ liệu công bố chính thức đã cho thấy lạm phát vùng EU đã trượt xuống mức thấp nhất trong 52 tuần.

Constancio cũng cho rằng những dữ liệu gần đây không làm thay đổi dự đoán về mức lạm phát 1% trong năm 2014.

Constancio cũng lập lại về thông điệp của Draghi’s đã nói hôm thứ năm rằng hội đồng ECB sẽ không sử dụng những biện pháp khác ngoài biện pháp lãi xuất. Đồng thời ông cũng cho rằng gói nới lỏng định lượng (QE) đã được thảo luận nhưng chưa vào chi tiết. 


“ Chúng tôi chưa thảo luận chi tiết về nó vì chúng tôi chưa ở trong trường hợp cần phải làm thế,” ông nói. Ông tiếp tục “Chúng tôi đã có những cuộc thảo luận trong quá khứ và sẽ tiếp tục về những chi tiết trong tương lai…tất nhiên, chi tiết vẫn rất quan trọng” 

Draghi đã lập lại rất nhiều lần về việc ECB sẽ có những chính sách khác để khắc phục khó khăn và những chính sách đó thật sự đã gây ra những chú ý nhất định. 

Trước khi quyết định về chính sách tiền tệ trong tháng 4, Chủ tịch Bundesbank Jens Weidmann cho rằng gói nới lỏng định lượng chưa từng được sử dụng ở khu vực EU. Những động thái có thể gây ra những sự biến động trong chính sách và gây ra sự khó khăn nhất định vì khu vực đồng EU không có những trái phiếu riêng lẻ và ECB không thể giúp đỡ một chính phủ riêng lẻ nào trong khối EU.

Dịch: FX4pro

ECB quyết định không hạ lãi xuất dù nỗi sợ hãi của giảm phát



ECB quyết định chọn giữ nguyên mức lãi xuất vào thứ năm, dù nhiều người dự đoán rằng ECB sẽ hạ lãi xuất trong một nỗ lực giá cả tăng lên và tăng lạm phát. 

Lãi xuất được giữ ở mức thấp kỉ lục vào mức 0.25% từ tháng 11 năm ngoái. Đồng EU cũng đang tăng giá nhẹ so với đồng dollar Mỹ và đồng Pound sau khi thông báo được đưa ra, trước khi mọi người chú ý đến cuộc nói chuyện của chủ tịch Mario Draghi tại Frankfurt Đức. 

Draghi dự đoán rằng một chu kì lạm phát ở mức thấp kéo dài và ECB cũng sẽ sẵn sàng cân nhắc đến việc tung gói nới lỏng định lượng. Ông ấy cũng thêm rằng hội đồng của ECB đang thảo luận về gói nới lỏng định lượng và một số chính sách đo lường nó vào kì gặp tuần này. Theo Draghi, “Hội đồng đều nhất trí sử dụng những công cụ độc đáo trong một sự cho phép nhất định để mà có thể đương đầu thật hiệu quả với việc lạm phát thấp trong một thời kì dài”.Đồng thời Draghi cũng cho rằng hội đồng không thấy rủi ro của việc giảm phát sẽ tăng cao, và những nhà phân tích rủi ro đang nằm ở hai hướng. 

Draghi dự đoán rằng lạm phát sẽ tăng trưởng ổn định đến năm 2015, nhưng để đạt mức mong muốn của ECB (2%) thì phải đợi đến cuối năm 2016. 


Nỗi sợ giảm phát 

18 trong 22 người giao dịch trên thị trường tiền tệ đều dự đoán chính sách sẽ không thay đổi. Tuy nhiên, một số nhà kinh tế học cũng rất lo lắng về lạm phát tăng nhẹ - sự gia tăng giá cả giảm nhẹ - trong khu vực EURO, và nó có thể dẫn đến giảm phát khi mà giá cả có thể giảm. Nỗi sợ hãi càng tăng cao vào tuần này khi mà chỉ số CPI cho thấy lạm phát trượt 0.5% trong tháng 3. Trong bài trả lời của mình, Draghi nói rằng ECB đã quyết định rằng những chỉ số lạm phát trong tháng 3 không đủ hiệu quả để có thể thay đổi sự nhận định dài hạn về giá cả. 



Rủi ro cho một viễn cảnh đang đi xuống: Draghi 

Tuy nhiên, Christine Lagarde, chủ tịch quản lý IMF đã kêu gọi gói nới lỏng định lượng của ECB để giảm nguy cơ giảm phát. Lagarde nói rằng: một chu kì lạm phát thấp có thể sẽ ảnh hưởng đến sản xuất và nguồn cung, sau đó sẽ gây áp lực lên sự phát triển và sự tăng trưởng việc làm. Gói nới lỏng định lượng, bằng nhiều cách khác nhau, là cần thiết cho khu vực EURO để có thể đạt được mục tiêu bình ổn giá.

Một nỗi sợ hãi khác với giảm phát rằng nó có thể làm giảm nguồn cung, vì người ta có thể chờ đợi giá cả xuống thấp hơn nữa, như thế sẽ ảnh hưởng năng suất và sẽ là một cuộc suy thoát kinh tế. 


Dịch: FX4pro



Đồng Dollar tiếp tục tăng điểm so với EURO trước cuộc họp của FOMC tuần này. 
Tin tức theo ngày 7/4/2014 của Bloomberg



Đồng dollar tiếp tục tăng điểm so với đồng EURO trong 3 tuần trước cuộc họp của ngân hàng trung ương FED vào cuộc họp vào tháng 3. Những quỹ đầu cơ đã tiếp tục đặt niềm tin mạnh mẽ nhất vào sự vào sự mất giá của USD, nó đã khuất động niềm tin cho những nhà đầu tư lướt song rằng sẽ có sự quay chiều của đồng USD. Đồng Yên tiếp tục tăng điểm so với đồng USD khi mà BOJ sẽ có cuộc họp đầu tiên vào ngày hôm nay khi đất nước này đã nâng thuế bán hàng vào ngày 1/4/2014.
“ Cuộc họp FOMC sẽ thêm vào những gam màu hơn xoay quanh những suy nghĩ của các thành viên”, Imre Speizer,một chuyên gia về chiến lược thị trường của ngân hàng Westpac ở Auckland.
Một đồng dollar Mỹ tương đương $1.3701 mỗi EURO vào lúc 10:28 am giờ TOKYO sau khi đã tăng lên 0.3% tới mức 1.3705. Đồng Yen chỉ có một sự thay đổi từ 103.27 mỗi đồng dollar sau khi tăng lên 0.6% vào ngày 4/4/2014. Cặp EJ đã giao dịch vào mức 141.50 sau khi tăng lên 0.7%, tăng lên 141.54

Cuộc họp của Fed

Cuộc họp FOMC vào ngày 18/3 đã công bố sẽ giảm giá trị gói QE3 xuống còn 55 tỷ dollar. Chủ tịch Fed, bà Janet Yellen nói rằng ngân hàng trung ương có thể nâng lãi xuất cho vay trong vòng 6 tháng tới sau khi cắt giảm hoàn toàn gói QE3.
Đồng Yên Nhật đã tăng giá sau khi bảng lương phi nông nghiệp được công bố với số liệu thấp hơn mức dự đoán của các nhà kinh tế. Sự sụt giảm về lợi tức trái phiếu chính đã làm giảm sức hấp dẫn của đồng Dollar với những nhà đầu tư Nhật.

“ Những thông tin về việc làm đã cho thấy sự hồi phục của nền kinh tế Mỹ vẫn còn khá chậm chạp, nhưng sự kì vọng của thị trường đã quá cao” theo ông Kengo Suzuki, một chuyên gia tiền tệ của công ty chứng khoán Mizuho tại Tokyo. Ông cũng nói thêm rằng: “ Chúng tôi không thấy được áp lực việc mua đồng Yên trước khi BOJ đưa ra kết quả trong cuộc họp sắp tới”

Ngân hàng trung ương Nhật có thể sẽ nâng lượng tiền gấp đôi ETF trong vài tháng tới. BOJ sẽ không thay đổi chính sách vào kì họp tới.
Đồng Dollar cao hơn đồng Yên gần 10 tuần.
Đồng dollar đã giao được giao dịch gần 10 tuần cao nhất so với đồng Yên trước khi Mỹ đưa ra những dự đoán về việc tăng trưởng việc làm trong 4 tháng.
Đồng dollar Mỹ đang tiến đến việc tăng giá tuần thứ ba liên tiếp so với Yên Nhật và Euro vì nhiều nhà đầu tư đang đắn đo việc tăng lãi suất lần đầu từ 2006. Đồng Euro đã chạm đáy khi so với đồng dollar Mỹ sau cuộc họp của ECBMario Draghi khi ông ta cho rằng sẽ có những bước đi đúng đắn để ngăn chặn rủi ro giảm phát. Đồng New Zealand cũng đã có hai tháng giảm mạnh.
“ Thị trường đã định giá tương đối chính xác về bảng lương phi nông nghiệp, trong sự mong đợi về một kết quả tệ hơn sau sự biến đổi không tốt của thời tiết” Ken Takahashi, một trợ lý cùa ngân hàng Sumitomo Mitsui có trụ sở tại New York.  Với động thái sẽ cắt bỏ gói nới lỏng định lượng, đồng dollar Mỹ sẽ được đẩy giá lên cao hơn nữa trong ngắn hạn và dài hạn.
Đồng dollar chỉ có sự thay đổi nhỏ từ 103.91 lúc 10:45am giờ Tokyo sáng ngày 3/4 /2014, trước khi chạm mức 104.11, chỉ số cao nhất từ ngày 23/1. EURO được mua với giá $1.3716 từ hôm qua trước khi rớt xuống mức 1.3698 thấp nhất từ 28/2. Đó cũng là đồng tiền đã mất giá 0.1% từ 142.52yen.
Đồng dollar Mỹ đang có triển vọng tăng 1.1% so với Yên Nhật và 0.3% so với Euro. Euro cũng tăng 0.8% so với Yên Nhật.
Đồng New Zealand cũng tăng 0.1% lên $0.8549. đồng thời cũng đã cho thấy sự rớt giá xuống còn 1.3%. Đây cũng có thể coi là lần giá mạnh nhất so với lần rớt giá ngày 31/1 với 1.6%.  

Sự tăng trưởng việc làm
Liên đoàn lao động của Mỹ hôm nay đã đưa ra những dữ liệu cho thấy sự lạc quan của thị trường việc làm khi có thêm 200,000 công việc tháng trước, sự tăng trưởng cao nhất từ tháng 11, theo dự đoán của hãng tin Bloomberg. Chỉ số thất nghiệp cũng đã giảm 0.1% từ mức 6.7% xuống còn 6.6%.
“ Chúng tôi tin rằng bảng lương có thể đạt được như những gì thị trường mong đợi,đồng thời cũng sẽ tăng giá trị của đồng dollar.” Kathy Lien, giám đốc điểu hàng tại quỹ quản lý vốn của BK. Lien cũng cho rằng: “ 6 trong 8 chỉ số về thị trường việc làm đang cho những tín hiệu lạc quan về bản lương phi nông nghiệp non-farm hôm nay”
Chủ tịch FED Yellen nói trong tháng trước rằng lãi suất sẽ có thể tăng từ 0 đến 0.25%  trong 6 tháng sau khi ngân hàng trung ương cắt gói nới lỏng định lượng.

Đồng dollar Mỹ giảm 0.9% trong 3 tháng khi so sánh với các cặp tiền của các quốc gia phát triển bởi chỉ số của Bloomberg Correlation- weighted indexes. 

"Chẳng ai muốn bị xem là ngân hàng hạng hai cả ..."



"Giới đầu tư nên biết một ngân hàng vẫn có thể tuyên bố 'tuân thủ theo khung Basel 2' trong các tài liệu PR trong khi mức độ 'tuân thủ' thực sự giữa các ngân hàng cách xa nhau?" Chắc chắn rồi.


Hiệp ước về vốn Basel ra đời năm 1988 (Basel 1) và được nâng cấp năm 2003 (Basel 2) là một khung đo lường về vốn do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đề xuất. Mục tiêu của Basel là đảm bảo các ngân hàng có đủ vốn dự phòng để xử lý tất cả các rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải.

Bất chấp nhiều thất bại về quản trị rủi ro trong ngành ngân hàng và tình trạng thiếu hụt thanh khoản kéo dài trong giai đoạn 2008-2013, theo khảo sát của KPMG vào năm 2013, vẫn có tới 20% ngân hàng Việt Nam “không có nhận thức về thực hiện khung giám sát Basel 2”. Về khung Basel 3 mà thế giới đang triển khai, "đừng nghĩ đến nó trong vòng 5-7 năm nữa".
Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn với ông Simon Topping, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Tài chính của KPMG Châu Á – Thái Bình Dương về chủ đề này. Ông Topping từng là Giám đốc điều hành (phụ trách chính sách ngân hàng) tại Cơ quan Tiền tệ Hong Kong (HKMA) và trực tiếp chỉ đạo thực hiện chương trình áp dụng khung Basel 2 tại vùng lãnh thổ này.

Ông Simon Topping
Khi làm việc ở Cơ quan tiền tệ Hong Kong, ông từng phụ trách dự án áp dụng khung Basel 2. Các ngân hàng ở Hong Kong mất bao lâu để chuyển từ khung Basel 1 sang khung Basel 2?

Ông Simon Topping: Khoảng 2 năm, nhưng ban đầu phần lớn các ngân hàng đã áp dụng phương pháp đơn giản theo khung Basel, chỉ một số ít áp dụng phương pháp phức hợp dựa trên mô hình nội bộ (internal-models based approach).

Ông cũng từng tư vấn cho Trung Quốc và Indonesia, vậy giai đoạn quá độ cho các ngân hàng tại Trung Quốc và Indonesia thì sao?

Ở Trung Quốc mất khoảng 5-7 năm, nhưng một trong những nguyên nhân là các ngân hàng bị yêu cầu áp dụng phương pháp phức tạp hơn. Tương tự như Trung Quốc, Indonesia cũng đang hoàn thiện dần.

Theo một khảo sát do chính KPMG Việt Nam tiến hành, “chi phí dự tính cho việc áp dụng Basel 2” là khó khăn mà nhiều ngân hàng nhắc tới nhất (tỷ lệ 85%). Có thể ông không đồng ý khi gọi đây là “chi phí” nên tôi sẽ hỏi thế này vậy. Nếu tôi là một ngân hàng với quãng 100.000 tỷ tài sản và 10.000 tỷ vốn chủ sở hữu, tôi sẽ phải dành ra bao nhiêu vốn đầu tư ban đầu để tiếp cận những lợi ích dài hạn của Basel II?

Có vô vàn lợi ích về mặt kinh doanh cho cả quốc gia và cho chính ngân hàng áp dụng Basel 2, và những lợi ích này vượt xa so với chi phí tuân thủ.Tôi không có con số chính xác, nhưng sẽ có sự khác biệt lớn giữa hai chọn lựa: theo phương pháp đơn giản hay phương pháp phức tạp.

Tuy thế, cũng phải nhìn nhận là đằng nào các ngân hàng cũng thực hiện một số thay đổi mà Basel 2 yêu cầu, có vậy họ mới kinh doanh an toàn tốt đẹp được. Vì thế, không nên coi mọi chi phí đều là do Basel 2.
"... chẳng ai muốn mình bị xem là ngân hàng hạng hai cả."
Vấn đề gai góc nhất khi triển khai Basel 2 là gì thưa ông?

Thực ra là hai vấn đề. Thứ nhất là nên áp dụng phương pháp đơn giản hay phương pháp phức tạp (đặc biệt với rủi ro tín dụng). Thứ hai là có nên áp dụng với tất cả các ngân hàng hay chỉ các ngân hàng lớn thôi.

>> VAMC có giúp các ngân hàng giảm nợ xấu, cải thiện tình hình tài chính

Thời ông lãnh đạo chương trình áp dụng Basel 2 tại Hong Kong, có câu chuyện nào mà ông ghi nhớ nhất?

Ban đầu chính quyền Hong Kong gợi ý là chỉ nên áp dụng bắt buộc Basel 2 với các ngân hàng lớn nhất thôi, còn lại dùng Basel 1 như cũ. Thế nhưng bất ngờ ở chỗ các ngân hàng nhỏ cũng đòi tham gia. Lý do là Basel 2 sẽ cho họ động lực cải thiện công tác quản trị rủi ro. Mà hơn nữa, chẳng ai muốn mình bị xem là ngân hàng hạng hai cả. Rút cục các bên thỏa thuận với nhau, và mọi ngân hàng đều tham gia, nhưng các ngân hàng nhỏ được phép dùng một phương pháp tính rủi ro tín dụng đơn giản hơn.

Có vẻ cơ quan quản lý và cả giới ngân hàng có tương đối nhiều đất để “thỏa thuận” khi triển khai Basel 2 thì phải?

Theo tôi thấy thì các dự thảo quy chuẩn theo khung Basel 2 cũng có khá nhiều sự linh hoạt để phù hợp với các ngân hàng lớn hoạt động đa lĩnh vực ở Việt Nam.

"... cứ nhìn những gì diễn ra ở phương Tây suốt 5 năm qua khắc rõ, nhất là chuyện những khó khăn của các ngân hàng ảnh hưởng thế nào tới nền kinh tế, người dân, và đặc biệt là … các nhà chính trị."
Cũng từ cuộc khảo sát do KPMG tiến hành mà tôi nhắc tới ở trên, có khoảng một nửa số ngân hàng nói họ sẽ dùng phương pháp “tiêu chuẩn” để tính rủi ro về vốn. Khảo sát trên viết phương pháp này “dễ triển khai nhất và không khác mấy so với Basel 1 (ra đời cách đây hơn 25 năm)”. Vậy giới đầu tư có nên có một nhận thức rõ ràng rằng một ngân hàng vẫn có thể tuyên bố “tuân thủ theo khung Basel 2” trong các tài liệu PR trong khi mức độ “tuân thủ” thực sự giữa các ngân hàng cách xa nhau?

Chắc chắn rồi. Nhưng nên lưu ý rằng một trong những yêu cầu của Basel 2 là trong báo cáo thường niên của các ngân hàng phải có phần khuôn khổ, phương pháp, các chọn lựa, quy trình và tính toán chi tiết tỷ lệ an toàn vốn (capital adequacy ratio, CAR). Nhà đầu tư nên nghiên cứu kỹ tài liệu này để hiểu ngân hàng thực sự “tuân thủ” ở mức độ nào.

Anh có thể tham khảo báo cáo tuân thủ khung Basel 2 vào năm 2011 của ngân hàng Standard Chartered.

Ông Topping này, ví dụ tôi là một đại biểu quốc hội chẳng có mấy kiến thức về ngành ngân hàng, bình thường tôi cũng chẳng quan tâm lắm. Và ông đang muốn thuyết phục tôi bỏ phiếu ủng hộ triển khai Basel 2, thứ sẽ khiến ngân hàng tốn cực nhiều chi phí tuân thủ, làm tăng lãi suất cho vay, làm xấu thêm bảng cân đối kế toán các ngân hàng, mà quan trọng nhất là, khiến tôi ở vào thế đối đầu với đội quân lobby hùng mạnh nhất nước. Ông định bắt đầu câu chuyện thế nào? Ông có 60 giây thôi.

Hệ thống tài chính vững mạnh và ổn định là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân. Đó phải là nơi cất trữ an toàn tiền tiết kiệm của công chúng, là nơi cho vay và cấp tín dụng thương mại cho người có nhu cầu, và là nơi biết quản trị có hiệu quả các rủi ro liên quan đến hoạt động “trung gian tín dụng” này. “Toa thuốc” Basel 2 chính là nhắm đến sự vững mạnh và ổn định ấy. Cẩn trọng triển khai Basel 2, có cân đối giữa lợi ích và chi phí cũng như tính tới đặc thù của Việt Nam, sẽ đảm bảo hệ thống tài chính đáp ứng được yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng, cũng như các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước.

Tôi chẳng giật mình lắm ...

Muốn biết chuyện gì có thể xảy ra nếu ngân hàng KHÔNG có đủ vốn và thanh khoản, cũng như không đủ khả năng quản trị rủi ro, cứ nhìn những gì diễn ra ở phương Tây suốt 5 năm qua khắc rõ, nhất là chuyện những khó khăn của các ngân hàng ảnh hưởng thế nào tới nền kinh tế, người dân, và đặc biệt là … các nhà chính trị.


Cảm ơn ông!

Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ FED



Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ tại Washington, D.C

Cục dự trữ liên bang Mỹ ( Federal Reserve SystemFed) là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ. Bắt đầu hoạt động năm 1915 theo “Đạo luật Dự trữ Liên bang” của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1913.

Cục dự trữ liên bang (viết tắt là Fed) bề ngoài là ngân hàng của chính phủ, bao gồm Hội đồng thống đốc đóng tại thủ đô Washington được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ, Ủy ban thị trường, 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và các ngân hàng thành viên có sở hữu một phần ở các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Chủ tịch Hội đồng thống đốc của Fed hiện nay là Ben Bernanke.

1. Lịch sử ra đời và hình thành
Trong khoảng thời gian từ 1862 đến 1913, hệ thống ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ được hình thành theo Đạo luật Ngân hàng quốc gia 1863. Một loạt các biến động trong lĩnh vực ngân hàng ở Hoa Kỳ vào các năm 1873, 1893 và 1907 cho thấy một hệ thống ngân hàng trung ương là cần thiết để điều phối thị trường.

Sau cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng năm 1907, Quốc hội Hoa Kỳ thành lập “Ủy ban tiền tệ quốc gia” với nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cải cách hệ thống ngân hàng. Nelson Aldrich – người đứng đầu đảng Cộng hòa ở quốc hội đồng thời là chuyên gia tài chính, được chỉ định là Chủ tịch Ủy ban. Ông chỉ đạo một cuộc khảo sát tường tận các ngân hàng trung ương Châu Âu và nhận thấy rằng Anh và Đức là hai nước có các ngân hàng trung ương ưu việt hơn hẳn. Năm 1910, Nelson Aldrich tìm kiếm sự giúp đỡ từ các ngân hàng hàng đầu của Hoa Kỳ với mong muốn dự thảo một kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng cho Hoa Kỳ một hệ thống tài chính tiên tiến như của Anh và Đức. Ông cùng các chuyên viên đại diện của các định chế tài chính lớn khi đó là J.P. Morgan, Rockefeller, và Kuhn, Loeb và Công ty, dành riêng một tuần thảo luận tại đảo Jekyll (ngoài khơi bang Georgia). Đại diện của Kuhn, Loeb và Công ty là Paul Warburg (chuyên gia tài chính gốc Đức) chủ trì việc xác lập những ý cơ bản của Đạo luật Dự trữ liên bang. Aldrich sau đó giới thiệu kế hoạch của ông về ngân hàng trung ương với tên “dự luật Aldrich”, đề xuất thành lập “Tổ chức Dự trữ liên bang” (Federal Reserve Association). Dự luật này trở thành một phần trong chính sách của đảng Cộng hòa ở Quốc hội nhưng không được phê chuẩn năm 1911 khi đa số quốc hội thuộc về đảng Dân chủ.

Năm 1913, Tổng thống đảng Dân chủ Woodrow Wilson phải tác động để kế hoạch của Aldrich được thông qua dưới sự đỡ đầu của thế lực đảng Dân chủ với tên mới là “Đạo luật Dự trữ liên bang”. Frank Vanderlip, người đã tham gia hội nghị ở đảo Jekyll và là chủ tịch National City Bank viết trong tự truyện của mình rằng “mặc dù kế hoạch về Quỹ dự trữ liên bang của Aldrich đã không được thông qua với cái tên của chính ông, nhưng những điểm cơ bản của nó đều nằm trong dự luật sau này được thông qua”. Tổng thống Wilson đã giành ưu thế trước William Jennings Bryan, người đứng đầu phe ủng hộ nông nghiệp trong đảng. Những người thuộc phe này muốn có ngân hàng trung ương của chính phủ mang đặc quyền in ấn và phát hành giấy bạc mỗi khi Quốc hội cần. Woodrow Wilson thuyết phục rằng giấy bạc của Cục dự trữ liên bang chính là nghĩa vụ của chính phủ, do đó chương trình này phù hợp mong muốn của họ. Những nghị sỹ đại diện miền nam và miền tây được tổng thống thuyết phục rằng hệ thống mới ra đời sẽ phân tán ở 12 vùng và sẽ giảm quền lực của New York, tăng quyền lực cho các vùng nội địa. (Trên thực tế, Ngân hàng dự trữ liên bang chi nhánh New York trở thành “số một” trong các Ngân hàng dự trữ liên bang. Ví dụ, nó có đặc quyền tiến hành các hoạt động trên thị trường (phát hành trái phiếu, v.v..) dưới sụ chỉ đạo của Ủy ban thị trường của Fed). Carter Glass, nghị sĩ đảng Dân chủ ủng hộ nhiệt liệt dự luật và mang về cho Richmond, Virginia quê ông một Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Bang Missouri có tới hai Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực nhờ James A. Reed (đảng Dân chủ).

Quốc hội thông qua “Đạo luật Dự trữ liên bang” cuối năm 1913. Paul Warburg và các chuyên gia xuất sắc khác được chỉ định điều hành hệ thống non trẻ. the Fed đi vào hoạt động năm 1915 và đóng vai trò chủ chốt tài trợ các nỗ lực chiến tranh của Mỹ và phe liên minh trong Thế chiến thứ nhất.

Tháng 07 năm 1979, Paul Volcker được tổng thống Jimmy Carter chỉ định là Chủ tịch Hội đồng thống đốc của Cục dự trữ liên bang khi lạm phát đang gia tăng trầm trọng. Dưới sự lãnh đạo của Paul Volcker, các biện pháp kiểm soát lạm phát đã có hiệu quả và tỷ lệ lạm phát đã giảm nhanh chóng trước năm 1986.

Tháng 01 năm 1987, khi chỉ số lạm phát hàng tiêu dùng chỉ là 1%, Fed tuyên bố không còn sử dụng tổng cung tiền tệ M2 làm định hướng kiểm soát lạm phát nữa mặc dù phương pháp này đã rất thành công từ 1979. Trước 1980, lãi suất được sử dụng làm định hướng và lạm phát khi đó rất cao. Việc sử dụng chỉ số tổng cung tiền tệ M2 thay thế lãi suất làm định hướng rất thành công, nhưng Paul Volcker cho rằng nó dễ gây nhầm lẫn.

Tháng 08 năm 1987, 07 tháng sau khi thay đổi chính sách tổng cung tiền tệ, Alan Greenspan thay thế Volcker trên cương vị Chủ tịch Hội đồng thống đốc. Và rồi sau 19 năm lãnh đạo Fed rất thành công, huyền thoại của ngành tài chính thế giới, Alan Greenspan nghỉ hưu và chỉ định người kế tục mình, Ben Bernanke.

2. Tính pháp lý và vị trí trong chính quyền
Các bộ phận của Cục dự trữ liên bang (Fed) có tư cách pháp lý khác nhau.

Hội đồng Thống đốc của Fed là cơ quan độc lập của chính phủ liên bang. Hội đồng không nhận tài trợ của Quốc hội và bảy thành viên của Hội đồng theo cơ chế dân chủ. Thành viên của Hội đồng là độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp. Tuy nhiên, Hội đồng phải gửi báo cáo tới Quốc hội theo định kỳ. Theo luật, thành viên của Hội đồng này chỉ rời chức vụ khi mãn hạn. Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm việc hình thành và cụ thể hóa chính sách tiền tệ. Nó cũng giám sát và quy định hoạt động của 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung.

Các Ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Banks) về danh nghĩa sở hữu bởi các ngân hàng thành viên (mỗi ngân hàng thành viên giữ cổ phần không có khả năng chuyển nhượng). Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là công cụ của chính quyền liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của chính quyền liên bang theo một số mục đích nhất định. Trong một phán quyết khác ở tòa án cấp bang, sự khác biệt giữa Hội đồng thống đốc và các Ngân hàng được quy định rõ ràng.

Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường.

Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực.

3. Vai trò và nhiệm vụ

Ben Bernanke - Chủ tịch thứ 14 của Hội đồng thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ từ 01/01/2006



Theo Hội đồng thống đốc, Fed có các nhiệm vụ sau:

a. Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tín dụng với mục đích tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn

b. Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chínhngân hàng quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng

c. Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính

d. Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia.

4. Tổ chức
Cấu trúc cơ bản gồm

* Hội đồng thống đốc

* Ủy ban thị trường

* Các Ngân hàng của Fed

* Các ngân hàng thành viên (có cổ phần tại các chi nhánh)

Mỗi ngân hàng Fed khu vực và ngân hàng thành viên của Cục dự trữ liên bang tuân thủ sự giám sát của Hội đồng thống đốc. Bảy thành viên của Hội đồng thống đốc được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ và phê chuẩn bởi Quốc hội. Các thành viên được lựa chọn cho nhiệm kỳ 14 năm (trừ khi bị phế truất bởi Tổng thống) và không phục vụ quá một nhiệm kỳ. Tuy nhiên, một thành viên nếu được chỉ định để phục vụ nốt phần chưa hoàn tất của thành viên khác có thể phục vụ tiếp một nhiệm kỳ 14 năm nữa, ví dụ cựu chủ tịch Hội đồng là Alan Greenspan đã phục vụ 19 năm từ 1987 đến 2006.

Những thành viên hiện thời của Hội đồng thống đốc là:

* Ben Bernanke, Chủ tịch

* Donald Kohn, Phó Chủ tịch

* Susan Bies

* Frederic Mishkin

* Kevin Warsh

* Randall Kroszner

(Một ghế còn khuyết do chưa được bầu)

Ủy ban thị trường gồm 7 thành viên của Hội đồng thống đốc và 5 đại diện từ các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Luôn có một đại diện của ngân hàng Fed tại Quận 2, thành phố New York (hiện tại là Timonthy Geithner) là thành viên trong Ủy ban này. Thành viên từ các ngân hàng khác được luân phiên theo thời gian 2 hoặc 3 năm.

5. Kiểm soát cung ứng tiền tệ
Cục dự trữ liên bang kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạt động thị trường mà qua đó Fed mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, giấy tờ có giá. Những tổ chức tham gia mua bán với Fed gọi là người giao dịch ưu tiên (primary dealers). Tất cả hoạt động thị trường của Fed ở Hoa Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên bang gần mới tỷ lệ mục tiêu.


Lạm phát ở Hoa Kỳ thời gian 1914-2006

6. Thỏa thuận mua lại

Thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay có thế chấp. Để đảm bảo những thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc tạm thời, bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang New York tham gia các thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch ưu tiền. Các mua bán chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có đảm bảo của Fed. Trong ngày giao dịch, Fed sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp (là các giấy tờ chứng nhận sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, v.v..). Khi hết hạn giao dịch, quá trình diễn ra ngược lại Fed hoàn lại chứng khoán và nhận lại tiền cùng lãi. Thời hạn giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày (cho vay qua đêm) tới 65 ngày, phần lớn giao dịch là cho vay qua đêm và 14 ngày.

Bởi các giao dịch làm tăng quỹ dự trữ của ngân hàng trong thời gian ngắn, chúng tăng nguồn cung tiền tệ. Hiệu quả của hoạt động này là tạm thời bởi các giao dịch sẽ đáo hạn, tác động dài hạn là dự trữ ngân hàng giảm đi bởi lãi suất của giao dịch (lãi suất một ngày của tỷ lệ 4,5%/năm là 0,0121%). Fed tiến hành giao dịch này hàng ngày trong 2004-2005, ngoài ra giao dịch thu hút vốn cũng tiến hành nhằm tạm thời giảm nguồn cung tiền tệ.

Trong giao dịch thỏa thuận bán lại (reverse repo), Fed sẽ vay tiền từ các người giao dịch ưu tiên bằng cách đặt cọc các chứng khoán chính phủ. Khi giao dịch đáo hạn, Fed sẽ hoàn trả tiền và các khoản lãi.

7. Giao dịch mua đứt

Một công cụ khác của bàn giao dịch thị trường là mua đứt. Trong giao dịch này, Cục dự trữ liên bang mua lại trái phiếu chính phủ và cung cấp giấy bạc mới vào tài khoản của người giao dịch đặt tại Fed. Bởi hoạt động này là mua đứt nên tăng cung tiền tệ lâu dài nhưng khi trái phiếu hết hạn khoản lãi vẫn được thu, thông thường là 12-18 tháng.

Từ những năm 1980, Cục dự trữ liên bang cũng bán quyền mua trái phiếu chính phủ ở mức lãi suất cao. Việc bán quyền mua này giảm nguồn cung tiền tệ bởi các nhà giao dịch ưu tiên sẽ bị khấu trừ tài khoản dự trữ của họ đặt tại Fed, do đó mà quá trình tạo ra tiền lưu thông bị hạn chế.

8. Thực hiện chính sách tiền tệ

Mua và bán trái phiếu chính phủ: Khi Cục dự trữ liên bang (Fed) mua trái phiếu chính phủ, tiền được đưa thêm vào lưu thông. Bởi có thêm tiền trong lưu thông, lãi suất sẽ giảm xuống và chi tiêu, vay ngân hàng sẽ gia tăng. Khi Fed bán ra trái phiếu chính phủ, tác động sẽ diễn ra ngược lại, tiền rút bớt khỏi lưu thông, khan hiếm tiền sẽ làm tăng lãi suất dẫn đến vay nợ từ ngân hàng khó khăn hơn.
Quy định lượng tiền mặt dự trữ: Ngân hàng thành viên cho vay phần lớn lượng tiền mà nó quản lý. Nếu Fed yâu cầu các ngân hàng này phải dự trữ một phần lượng tiền này, khi đó phần cho vay sẽ giảm đi, vay mượn khó hơn và lãi suất tăng lên.
Thay đổi lãi suất của khoản vay từ Fed: Các ngân hàng thành viên của Fed vay tiền từ Fed để trang trải các nhu cầu ngắn hạn. Lãi suất mà Fed ấn định cho các khoản vay này gọi là lãi suất chiết khấu. Hoạt động này có ảnh hưởng, tuy nhỏ hơn, về số lượng tiền các thành viên sẽ được vay.

9. Tỷ lệ chiết khấu

Cục dự trữ liên bang thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định hướng “lãi suất quỹ vốn tại Fed”. Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này do thị trường quyết định chứ Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ sung hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt động của nó trên thị trường.

Cục dự trữ liên bang còn ấn định tỷ lệ chiết khấu – lãi suất mà các ngân hàng thương mại phải trả khi vay tiền từ Fed. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách vay quỹ đặt cọc tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết khấu của Fed. Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang tính công khai rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay.

Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi suất ưu đãi, là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với “lãi suất quỹ vốn tại Fed”. Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối với khoản vay của những khách hàng tin cậy nhất.

Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp, do đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại, lãi suất cao đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn. (Xem thêm bài chính sách tiền tệ).

Cục dự trữ liên bang thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại Fed” mỗi lần ở mức 0,25% hoặc 0,5%. Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ 6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế. Tháng 11 năm 2002, lãi suất do Fed điều chỉnh chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát. Ngày 25/03/2003, “lãi suất quỹ vốn tại FED” tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 – 0,68%. Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày 08/08/2006.

Có thể, Fed cũng đã nỗ lực các hoạt động mua bán trên thị trường nhằm thay đổi tỷ lệ cho vay dài hạn, tuy nhiên năng lực của nó yếu hơn rất nhiều các định chế tài chính tư nhân.

10. Các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và ngân hàng thành viên

12 ngân hàng khu vực dự trữ liên bang khu vực được thành lập bởi Quốc hội là các chi nhánh của hệ thống ngân hàng trung ương, có tổ chức giống một tổ chức tư nhân. Ví dụ, cổ phần của ngân hàng dự trữ liên bang khu vực do các ngân hàng thành viên sở hữu. Việc sở hữu cổ phần này khác với sở hữu cổ phần công ty thông thường. Các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực hoạt động không vì lợi nhuận và việc sở hữu cổ phần của nó là điều kiện để trở thành ngân hàng thành viên. Cổ phần không thể mua bán hay thế chấp. Cổ tức ấn định là 6% một năm. Đứng về mặt tài sản, ngân hàng Fed New York là ngân hàng lớn nhất với phạm vi hoạt động là quận 2 tiểu bang New York, thành phố New York, Puerto Rico và quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ.

Cổ tức được trả dưới dạng khoản bù vào lãi suất cho phần dự trữ thiếu hụt được giữ tại Fed. Theo quy định của luật pháp, mỗi ngân hàng phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà phần lớn đặt tại Fed. Cục dự trữ liên bang không trả lãi suất cho các khoản dự trữ này.


Bản đồ các khu vực quản lý của các ngân hàng Fed khu vực

11. Các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực khu vực

Mỗi ngân hàng Fed khu vực được ký hiệu bằng chữ cái. Những chữ cái này in trên giấy bạc mà chúng phát hành.
STTTên ngân hàng khu vựcKý hiệuWebsite
1BostonA[1]
2New YorkB[2]
3PhiladelphiaC[3]
4ClevelandD[4]
5RichmondE[5]
6AtlantaF[6]
7ChicagoG[7]
8St LouisH[8]
9MinneapolisI[9]
10Kansas CityJ[10]
11DallasK[11]
12San FranciscoL[12]

12. Quy định về tỷ lệ dự trữ

Cục dự trữ liên bang ấn định tỷ lệ dự trữ – phần trăm số tiền ký gửi tại ngân hàng mà ngân hàng phải giữ lại hoặc gửi tại Fed để sẵn sàng chi trả các nhu cầu rút tiền. Quy định này trực tiếp giới hạn khả năng cho vay của các ngân hàng vì khoản dự trữ này phải luôn được duy trì. Trong trường hợp khoản dự trữ này tụt xuống, ngân hàng phải tiến hành vay lẫn nhau hoặc vay của Fed để đảm bảo tỷ lệ dự trữ.

Theo Wikipedia

Lịch sử hệ thống tiền tệ thế giới kể từ năm 1821

Hệ thống tiền tệ quốc tế có lịch sử hơn 200 năm với những biến động cùng sự ra đời của các ngân hàng trung ương, thế chiến, cơ chế tỷ giá.

Dưới đây là sự biến đổi của hệ thống tiền tệ quốc tế hay cơ chế tỷ giá hối đoái từ năm 1821 đến nay:

1. Bản vị vàng cổ điển



Từ năm 1821 đến 1914, hấu hết các tiền tệ trên thế giới đều được quy đổi sang vàng. Anh là quốc gia đầu tiên áp dụng cơ chế này vào năm 1821, tiếp đến là các nước khác vào những năm 1870. Hầu hết các nước thuộc địa sẽ quy đổi tiền tệ của mình theo vàng.

Kết quả là kinh tế toàn cầu được kết nối thông qua việc sử dụng chung cơ chế quy đổi vàng, tiền. Bảng Anh được coi là quan trọng nhất trong hệ thống này bởi Anh là siêu cường tại thời điểm đó, là nước đầu tiên áp dụng cơ chế quy đổi và cũng là nước kiên trì tuân thủ mức quy đổi 0,25 oz/bảng.

2. Thời kỳ thả nổi



Thế chiến thứ I giai đoạn 1915-1925 đã làm sụp đổ hệ thống bản vị vàng. Trong khi gần như cả thế giới ngừng quy đổi tiền tệ theo vàng thì Mỹ vẫn theo đuổi cơ chế này thêm vài năm nữa.

Chính điều này đã giúp nâng vị thế của đồng USD với vai trò là một đồng tiền dự trữ quốc tế. Giai đoạn thả nổi cơ chế tỷ giá đầu thế kỷ 20 – khi mà các chính phủ có thể tự do can thiệp thị trường – bị coi là giai đoạn hỗn loạn và bất ổn. Do đó, sau chiến tranh, các nước dự định khôi phục lại cơ chế trước Thế chiến thứ I.

3. Hệ thống bản vị vàng giữa 2 cuộc thế chiến



Sau Thế chiến I, việc khôi phục kinh tế trở thành nhu cầu cấp thiết cho các nước châu Âu, do đó các nước đã tiến tới thỏa thuận lập một trật tự mới trong quan hệ thương mại, tín dụng và tiền tệ quốc tế.

Tại hội nghị Genoa năm 1922, các nước thừa nhận vai trò của đồng bảng Anh là đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế. Do đó thực tế, chế độ tiền tệ lúc này là chế độ bản vị bảng Anh.

4. Hệ thống thả nổi trước hiệp ước Bretton Woods



Các chính phủ châu Âu lần lượt phá vỡ cam kết tuân thủ hệ thống bản vị vàng khiến hệ thống tiền tệ quốc tế tiếp tục theo cơ chế thả nổi, duy chỉ có USD vẫn theo cơ chế neo tỷ giá với vàng. Tuy nhiên, hệ thống này suy yếu dần trong giai đoạn Đại suy thoái những năm 1930.

Đến năm 1934, tổng thống Mỹ lúc đó là Roosevelt đã ra sắc lệnh cấm dự trữ vàng và giảm tỷ lệ quy đổi còn khoảng từ 20 USD/oz -35 USD/oz Ngoài ra, sắc lệnh cũng yêu cầu người dân không xuất khẩu vàng, và chuyển vai trò dự trữ vàng sang cho Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed).

5. Hiệp định Bretton Woods về neo tỷ giá



Năm 1944, 730 đại biểu đến từ 44 quốc gia đã gặp nhau tại Bretton Woods, New Hampshire, năm 1944 để để xây dựng hệ thống tài chính thế giới sau chiến tranh, tránh nguy cơ tái diễn khủng hoảng kinh tế.

Các nước đã thống nhất thành lập ra một hệ thống tài chính được gọi là Bretton Woods – bao gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và chế độ tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng USD gắn với vàng.

Do tại thời điểm đó Mỹ chiếm hơn một nửa tiềm năng sản xuất của thế giới và giữ gần như toàn bộ lượng vàng của thế giới nên các nhà lãnh đạo quyết định gắn các đồng tiền thế giới với đồng USD với quy đổi theo vàng là 35 USD/oz.

6. Hiệp định Smithsonian



Tháng 12/1971, hiệp định Smithsonian ra đời, đòi hỏi USD giảm giá khoảng 8% so với các đồng tiền khác. Biên độ dao động giá trị các đồng tiền được nới rộng đến 2,5% của tỷ giá ấn định. Tháng 3/1973, hiệp định này chấm dứt, kết thúc kỳ nguyên của Bretton Woods.

7. Thả nổi ở phương Tây và cơ chế neo tỷ giá linh hoạt ở các nước đang phát triển



Sau khi hiệp định Smithsonian chấm dứt, USD giảm mạnh so với vàng. Hàng loạt các nước đang phát triển bỏ cơ chế neo tỷ giá theo USD, trở về cơ chế thả nổi như đầu thế kỷ 20 và chỉ có một số ít nước, đặc biệt ở châu Á vẫn neo tỷ giá theo USD.

8. Cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu



Vài năm áp dụng cơ chế thả nổi, đến cuối những năm 1970, Cộng đồng châu Âu đã thiết lập một hệ thống hợp tác về tỷ giá hay cong gọi là ERM. Theo đó các ngân hàng trung ương thành viên có thể can thiệp thị trường để duy trì biên độ tỷ giá 2,25% giữa đồng tiền của nước họ với một đồng tiền khác. Đây có thể gọi là cơ chế bán neo tỷ giá (semi-peg).

Đến tận năm 1990, Anh mới tham gia vào hệ thống này, nhưng cũng rời hệ thống 2 năm sau đó khi chính phủ nước này không chấp nhận việc ấn định biên độ theo ERM. Cũng trong giai đoạn này, tỷ phú George Soros được cho là đã thu về 1 tỷ USD nhờ bán khống bảng Anh. Khoảng 10 năm sau đó, đồng euro ra đời và các tiền tệ khác được quy đổi theo euro khiến euro trở thành tiền tệ chính thức khi thị trường chứng khoánchính ở Italia, Đức và Pháp được định giá bằng đồng tiền này.

Trong khi đó, USD vẫn đóng vai trò là đồng tiền dự trữ toàn cầu, có tỷ giá thả nổi so với các đồng tiền chính và vàng. Hầu hết các nước Đông Nam Á vẫn duy trì cơ chế tỷ giá cố định hoặc linh hoạt với USD cho đến trước khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997.

Theo Business Insider